Trị liệu bằng thay thế estrogen

0 Comment

Đồng thời tránh cho hàng năm phải cạo lấy mẫu đi xét nghiệm để chuẩn đoán, rất bất tiện. Hiện nay dùng estrogen với lượng thấp cộng với progestin 7 ngày hoặc 10 ngày dường như có thể đạt được yêu cầu nói trên.
Trong những mục giải đáp có liên quan, chúng tôi đã giới thiệu rõ là những sự thay đổi về thân thể và về tâm lý của phụ nữ sau khi mãn kinh đều có liên quan đến sự thiếu estrogen. Năm 1932, lần đầu tiên Geist và Spielman đã dùng thuốc điều chế bằng estrogen để phòng chữa hội chứng thời kỳ tiền mãn kinh. Nhưng người đầu tiên nhận thức được phụ nữ sau khi mãn kinh cho bổ sung estrogen không những có thể điều trị được các triệu chứng do mãn kinh gây nên, mà còn có thể kéo chậm lại và ngăn chặn được phát sinh các bệnh tương quan khi mãn kinh là Robet Wilson năm 1963: Phương pháp này gọi là trị liệu thay thế bằng estrogen (ER’I’). Do vì đa số trường hợp phải dùng thêm progestin, cho nên cũng thống nhất gọi là trị liệu thay thế bằng kích tố (HRT). Thực tế lâm sàng và nghiên cứu trên 30 năm trở lại đây đã chứng minh ích lợi chủ yếu của nó là:
Điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt đã rối loạn ở thời kỳ quá độ đến mãn kinh.
Giảm nhẹ hoặc trừ tận gốc các triệu chứng do hạ thấp estrogen gây nên, như bốc hỏa, mồ hôi ra nhiều, giảm nhẹ sự thoái hóa đường tiết niệu và dưỡng sinh sản, tăng cường sức đề kháng cục bộ, giảm nhẹ tỷ lệ cảm nhiễm của cơ thể, nâng cao chất lượng cuộc sống
Giảm thiếu sự mất đi quá nhiều lượng lượng xương thời kỳ mới sau khi mãn kinh và lâu dài về sau do vì mức estrogen tụt xuống thấp gây nên, ngăn chặn hoặc kéo chậm lại sự phát sinh chứng bệnh xốp chất xương. Có 1 báo cáo khoa học nêu ra, khi trị liệu thay thế trên 6 năm, tỉ lệ phát sinh gãy xương cổ tay, hoặc gãy xương hông có thể giảm thiểu trên 50%, tỷ lệ phát sinh gãy xương cột sống giảm thiểu 90%. Phụ nữ uống thuốc estrogen (kích tổ nữ – ND) đều có ích cho công năng điều tiết tương đối tốt, khó sinh ra ngã, đó cũng là một trong những nguyên nhân giảm thiểu gãy xương. Progestin cũng có tác dụng có ích đổi với sự bảo vệ và duy trì lượng xương.
Cải thiện thành phần hợp thành hipoprotêin trong huyết tương, tăng thêm nồng độ high densitylipoprotein và gholesterol trong máu (tức HDL-C trong máu – ND), giảm thấp tổng lượng cholesterol và low densitylipoprotein – cholesterol trong máu (tức LDL°C trong máu – ND).